Câu chuyện làm lành được phước, làm dữ bị họa

Câu chuyện làm lành được phước, làm dữ bị họa xảy ra vào đời nhà Minh. Có người văn sĩ tên là Vương Ái Nhơn, mồ côi cha từ thuở bé. Khi được tám tuổi, thân mẫu chàng dắt chàng đến cụ Thanh Sơn xin thọ giáo. Nhờ bẩm tánh thông minh thêm con nhà đạo đức, Vương Ái Nhơn học hành rất tiến bộ, tính nết lại ôn hòa, thuần hậu, nên được thầy thương, bạn mến.

Làm lành được phước, làm dữ bị họa

Bà Trương thị, thân mẫu của Vương Ái Nhơn là một Phật tử thuần thành thường lo sùng tu ngôi Tam bảo, ấn thí kinh văn và chẩn tế bần.

Ngày giờ thấm thoát, Vương Ái Nhơn tuổi được hai mươi, vào trường Hương thi, đậu Cử nhân văn chương.

Trong nhóm đồng bảng năm người, có chàng thanh niên, con nhà cự phú cũng ở trong tỉnh ấy, tê là Lê Háo Kỳ.

Ba năm sau, có khoa Đình thi mở tại Bắc Kinh. Vương Ái Nhơn và bạn đồng hành là Lê Háo Kỳ cùng nhau thuê thuyền đi thi.

Đi được mười ngày gặp khí trời nóng nực thuyền đậu lại nghỉ mát tại bến Trường Giang. Bỗng thấy một cảnh chùa rất đẹp bên bờ sông.

Vương Ái Nhơn mới nói với Lê Háo Kỳ rằng: “Nhân dịp này, hai anh em ta viếng chùa cho vui”. Vương Ái Nhơn lên bờ trước, vội vã đi thẳng đến cửa Tam quan, thấy đề ba chữ lớn: “Thiện Long Tự”.

Chàng đứng ngắm cảnh một hồi, chợt thấy cái gói bằng vải xanh, trên có cột dây gai nằm bên cây đại thụ.

Chàng đến gần xách gói ấy lên, mở ra coi mới biết là một cái túi đựng một trăm lượng bạc.

Lúc ấy Lê Hóa Kỳ cũng vừa đến, thấy vậy bèn vỗ vai Vương Ái Nhơn mà nói rằng: “Anh phát tài to rồi, mặc sức xuống Trường An mà ăn chơi thỏa thích!”

Vương Ái Nhơn mới trả lời rằng: “Mỗi vật đều có chủ, huống chi nữa, lượm của rồi cất giữ mà dùng không tìm chủ giao lại, là trộm cắp rõ ràng. Vậy tôi xin ở nán lại chùa vài bữa mà chờ, thế nào cũng có người đến kiếm, thì tôi trả lại cho họ”.

Lê Háo Kỳ suy nghĩ một hồi, bèn trả lời rằng: “Nhơn huynh nói vậy phải lắm mà ngặt vì kỳ thi đã gần kề, tôi phải xuống Trường An cho kịp. Nhơn huynh muốn ở nán lại đây, tôi sợ có nhiều điều bất tiện. Nếu người mất bạc đến nhận, thì chẳng nói làm chi, bằng không có thì nhơn huynh đi bộ xuống Trường An, phải đem bạc ấy theo, mà đường sá lại xa xôi, vắng vẻ, tôi e nhơn huynh khó bảo toàn tánh mạng. Vậy nên nhơn huynh hãy đem số bạc ấy cho tôi đem xuống ghe đến Trường An trước, còn nhơn huynh ở lại mà đợi. Như có ai đến nhận của rơi, thì đi đường bộ với nhơn huynh xuống Trường An, vậy là tiện cả hai bề, khỏi lo trễ nải hoặc trộm cướp. Xin nhơn huynh lượng xét”.

Vương Ái Nhơn nghe nói có lý, liền đưa túi bạc cho Lê Háo Kỳ, còn chàng nán lại chờ người tìm của mất.

Vương Ái Nhơn vào ngôi chùa gần đó xin ở nhờ một đêm. Sáng ngày, Vương Ái Nhơn thức dậy ra cửa Tam Quan, thấy một người đang tìm vật với vẻ ưu sầu.

Chàng liền chạy đến hỏi thăm, và người đó trả lời rằng: “Tôi tên là Trần Quản vì cha tôi mắc phải hàm oan bị giam trong ngục thất, để minh oan cho cha tôi khỏi nạn. Hồi trưa hôm qua, tôi đi ngang đây có ghé chùa lễ Phật. Vì khí trời nóng nực, tôi xuống ao tắm, rồi bỏ quên túi bạc tại gốc cây này, đi được nửa đường, mới nhớ lại thì trời đã tối. Đến khuya tôi trở lại đây kiếm hoài không thấy. Tôi rầu rĩ quá, vì thế này thì chắc cha tôi phải thác oan trong ngục”.

Trần Quản nói đến đó liền ngồi xuống òa khóc.

Vương Ái Nhơn lật đật đỡ Trần Quản dậy mà đáp rằng: “Tôi đã lượm túi bạc ấy hồi hôm qua, nhưng tôi đã gửi cho người bạn của tôi đem xuống Trường An rồi. Còn tôi ở nán lại đây, nếu như ai mất bạc ấy đến tìm thì tôi sẽ trả lại. Vậy sẵn tiện đường, xin quý khách cùng tôi đi Trường An để gặp người bạn thân của tôi để giao bạc lại cho ngài”.

Sau khi cảm tạ sự cụ cho ở nhờ rồi hai người nhanh chóng lên đường. Đến nơi, vừa gặp Lê Háo Kỳ, Vương Ái Nhơn liền nói rằng: “Này, nhơn huynh! Nguyên túi bạc lượm được mà tôi gửi huynh đó, là của quý khách này, vậy nhơn huynh hãy giao lại cho người, vì có chuyện cần thiết”.

Lê Háo Kỳ làm bộ ngạc nhiên mà đáp lại Vương Ái Nhơn rằng: “Nhơn huynh chỉ gửi tôi những đồ hành lý mà thôi, chớ có gửi túi bạc nào đâu!”

Vương Ái Nhơ và Trần Quản nghe xong như sét đánh bên tai, hai người dở khóc dở cười, bèn đi lại tiệm của người anh em bạn mà trú ngụ.

Vương Ái Nhơn khuyên Trần Quản rằng: “Lê Háo Kỳ dùng thủ đoạn tiểu nhân mà đoạt của, quý khách cứ ở lại đây, để tôi đi tạm lo cho đủ số bạc, để lo cho lệnh bá ra khỏi chốn lao tù”.

May đâu vừa ra khỏi cửa gặp được người đồng hương, tên là Lưu Chí Thành rõ biết chàng có tâm trọng nghĩa như thế bèn giúp cho 50 lượng, hiệp với 30 lượng của chàng đem theo làm lộ phí được 80 lượng.

Chàng về đến chỗ ngụ, nói với Trần Quản rằng: “Tôi có 80 lượng, vậy xin quý khách tạm cất và ở đây chờ tôi. Vì gần tới kỳ ứng thí, xin để cho tôi nhập trường thi rồi tôi sẽ ra kiếm thêm đủ số cho quý khách”.

Vào trường thi, Vương Ái Nhơn và Lê Háo Kỳ may mắn được gặp những đề đã từng nghiên cứu rành rẽ, nên làm bài rất thuận lợi. Song các bài vở của Lê Háo Kỳ có phần sâu sắc hơn, vì mấy hôm trước ngày thi, Vương Ái Nhơ lo rầu về việc Trần Quản nên bài làm có phần kém hơn.

Một đêm, đang nằm thiêm thiếp, bỗng chàng chiêm bao thấy đức Quán Thế Âm Bồ Tát hiện đến mách bảo rằng: “Khoa thi này đáng lẽ Lê Háo Kỳ đậu Trạng nguyên, nhưng vì gã làm ác gặp ác nên phải rớt, mà ngày sau còn bị quả báo khổ sở nữa. Còn ngươi làm lành được phước, đã làm việc có âm đức lớn, vậy nên khoa này, ngươi đậu Trạng nguyên, được nhân duyên kỳ ngộ và được hưởng phước thọ đủ điều.

Song từ nay về sau, tuy công thành danh toại, ngươi cũng phải lo tu hành niệm Phật, bố thí cho kẻ cô cùng, vì làm lành được phước nên ngươi sẽ đời đời sanh con rồng cháu phụng, nối nghiệp cho tông môn”.

Đến ngày xướng danh, Vương Ái Nhơn đến trường thi, khi nghe tên mình đậu Trạng nguyên, chàng tự nhủ những điều Quán Thế Âm Bồ Tát nói làm lành gặp lành lúc nằm mộng quả là linh nghiệm.

Còn Lê Háo Kỳ không thấy tên mình trên bảng, uất ức thẹn thùng, vội vàng trở về quê, từ đó sanh bệnh.

Khi quan Chánh giám khảo cho mời Vương Ái Nhơn vào mà gạn hỏi rằng: “Chẳng hay quan Trạng, thường ngài có làm việc gì đại âm đức hay không, xin tỏ cho tôi rõ? Số là quyển văn của Lê Háo Kỳ tôi đã chấm đậu đầu rồi, đến sáng ra tôi coi lại, thì thấy tên của quan Trạng đã đổi qua quyển của Lê Háo Kỳ. Thiệt là xưa nay tôi chưa từng gặp qua chuyện lạ lùng như vậy”.

Vương Ái Nhơn ban đầu còn giấu, nhưng chàng tỏ hết đầu đuôi tự sự.

Quan Chánh giám khảo nghe nói, bèn đáp rằng: “Đó rõ ràng làm lành được phước, làm ác gặp ác, chẳng sai chạy mảy nào”.

Qua bữa sau, vua ban y phục và phong chức Trạng nguyên cho Vương Ái Nhơn, vua còn cho đặt yến tiệc long trọng tại Quỳnh Lâm Viên để chúc mừng tân khoa Trạng nguyên.

Hôm sau lâm triều, vua phán rằng: “Trẫm thấy Trạng nguyên tài năng xuất chúng, tướng mạo tôn nghiêm, nên trẫm định đưa Công chúa Lệ Sương, vầy duyên cang lệ”.

Phán rồi, vua liền truyền lệnh cho quan Công bộ lo sửa soạn Vương phủ và lựa ngày giờ tốt để cho Công chúa về thành thân với quan Trạng.

Mấy hôm sau, Trạng nguyên đòi chàng Trần Quản, là người mất túi bạc, vào cho thêm 100 lượng bạc, và tâu với vua xin tha Trần Công, và đền ơn Lưu Chí Thành rất xứng đáng.

Đây nhắc lại Lê Háo Kỳ, khi thi rớt về quê, phần thì xấu hổ với chúng bạn, phần thì nghe Vương Ái Nhơn vinh diệu chừng nào, chàng càng uất chừng ấy, nên bệnh căn ngày càng trầm trọng.

Chàng thuê đò định bỏ đi xa, đò rời bến được ít ngày, rủi bị cuồng phong nhận chìm. Mọi người đều lội lên bờ được, chỉ có mình Lê Háo Kỳ vì bệnh nặng nên thoát không khỏi nạn, đành làm mồi cho loài thủy tộc.

Đây nói qua Vương Trạng nguyên, ba tháng sau, vào tâu với vua Tuyên đế xin về bái yết tổ tông, vua ban 100 lượng vàng ròng và 5000 lượng bạc nén. Các quan đi lễ tặng tổng cộng được 5000 lượng bạc nữa, quân lính hộ tống hai vợ chồng Trạng nguyên xe giá chỉnh tề, người ngựa đi rầm rầm rộ rộ.

Sau mười ngày đường mới tới quê nhà, Trạng nguyên ra mắt mẫu thân và yết bái tổ đường xong rồi, Trương phu nhân liền cho tổ chức trai đàn và chẩn tế rất lớn.

Qua bữa sau, Trạng nguyên lại đem lễ vật đền ơn Sư trưởng, là cụ Thanh Sơn cư sĩ, và những người đồng song cùng bạn tri kỷ, báo ân báo đức, các việc xong rồi, mới cất một cảnh chùa, hiệu là Báo Ân Tự, để Trương phu nhân tiện việc tu hành.

Vương Trạng nguyên lại sai người đem bạc đến chùa Thiệu Long, là ngôi chùa chàng từng tá túc nhờ một đêm để chờ người mất túi bạc, lo sùng tu ngôi Tam Bảo.

Công cuộc đâu đó hoàn toàn rồi, vợ chồng Vương Trạng nguyên trở về triều hưởng sự vinh hoa phú quý và được thăng lên chức Hộ Quốc Công.

Hai vợ chồng Trạng nguyên sanh được hai người con trai, đặt tên là Vương Ái Thanh và Vương Ái Tịnh, lớn lên đều thông minh, học hành thành tài và thi đậu làm quan lớn cả.

Còn Trương phu nhân tu hành tại chùa Báo Ân, thọ được 75 tuổi, không bệnh tật chi, ngồi niệm Phật mà qua đời.

Một đêm kia, nhằm tiết Trung thu, vợ chồng Hộ Quốc Công ra ngoài hoa viên thưởng ngoạn. Bỗng trên hư không có tiếng nói rằng: “Tiền thân của hai con đều là người tu hành, vì bởi còn mong niệm tục trần, nên phải đọa xuống đây làm vợ chồng cùng nhau, mà trả cho hết những nợ túc duyên. Vậy thì hai con ráng lo tu hành, mong có ngày thoát khỏi đường sanh sanh hóa hóa, đừng tham luyến cõi thế gian mà phải bị luân hồi trong Lục đạo”.

Hai vợ chồng nghe mấy lời ấy nhìn kỹ thì thấy đúng thật là đức Quán Thế Âm Bồ Tát đến điềm hóa, nên đồng cúi đầu đảnh lễ, khi ngước mắt lên nhìn chỉ thấy hóa ra một ánh tường vân, chớ không có chi nữa.

Đêm ấy, hai vợ chồng vào chánh đường cùng bàn tính, liền đồng vào triều quỳ tâu với vua Tuyên đế mà xin xuất gia tu hành, trước là báo ơn quốc vương thủy tổ, sau nhờ thuyền từ mà vượt qua biển trầm luân, và nương đuốc huệ bước lên đường giải thoát.

Vua thấy lạ, liền phán rằng: “Hai con lầu son gác tía, lâu nay hưởng sự vinh hoa phú quý đã quen rồi, e khi xuất gia tu hành nửa đường mà bỏ, thì càng thêm hại đến thân tâm, lại bị quả báu về sau nữa. Nếu làm không tròn phận sự, thì đời đời kiếp kiếp lăn lộn trong bánh xe luân hồi chịu thống khổ mãi mãi. Trẫm nói vậy để hai con tự lượng, chớ Trẫm không ép mà cũng không khuyên”.

Hai vợ chồng Trạng nguyên tâu rằng: “Hai con khi vầy duyên cang lệ có lời nguyện ngoài 40 tuổi sẽ xuất gia, nay chí của hai con đã quyết, nên cúi xin Phụ Vương nhận lời”.

Vua Tuyên đế thấy hai vợ chồng nhất tâm thành thật, cũng tùy thuận theo, liền truyền cất hai cảnh chùa cách nhau bốn dặm tại núi Hoành Sơn để hai vợ chồng Trạng nguyên xuất gia tu hành.

Từ đây, hai vợ chồng ở riêng mỗi người một chùa tu hành, nào là tả kinh ấn tống, giáo hóa hậu sanh, dưa muối trai lòng, thành tâm niệm Phật.

Ngày rằm tháng giêng năm thứ 18, hiệu Vĩnh Thới, không có bệnh tật chi, hai vợ chồng niệm Phật mà qua đời.

Hiện nay tại hai cảnh chùa ấy đều có sử sách và dấu tích còn lưu.

Cảm ơn mọi người đã xem hết bài viết “Câu chuyện làm lành được phước, làm dữ bị họa”. Xem thêm các bài viết hay về nhân quả ở link bên dưới.

Câu chuyện bán thân lấy tiền làm chay bố thí

Câu chuyện nhân quả không ham sắc được quả tốt

Câu chuyện sát nghiệp chiêu báo quả báo giết trâu

Theo Dõi Taonon.vn trên Facebook Tại Đây