Câu chuyện nhân quả hiếu nghĩa cảm Phật

Câu chuyện hiếu nghĩa cảm Phật xảy ra tại làng An Phước, quận Quế Dương, Trung Quốc. Có người danh sĩ tên là Phan Thanh Quý, nhà nghèo, cha mất sớm, mẹ là Lý thị, hằng ngày chắp bông vải dành dụm cho chàng ăn học.

Hiếu nghĩa cảm Phật

Khi Phan Thanh Quý được mười lăm tuổi, sự học giỏi giang, lại chí hiếu với mẹ.

Lý thị thấy con ngoan ngoãn, hiếu thảo như vậy, lòng mừng thầm. Thanh Quý thấy mẹ làm việc gì, cũng giành làm giúp. Hàng xóm láng giềng, ai cũng khen nhà bà có phước.

Từ nhỏ bà đã quy y Phật, hay đi cúng chùa. Sau khi kết duyên, chồng là Phan Thành Cao không tin Phật, nên chẳng cho bà tới chùa nữa.

Đến khi ông qua đời, nhà bà lâm cảnh nghèo khổ, không biết lấy gì vào chùa cúng kiếng, nên bà chỉ ở nhà thờ vọng đức Quán Thế Âm, mai chiều thắp hương cầu nguyện mà thôi.

Hễ bán vải bông dư được ít tiền, bà mua hương để dành, rồi mỗi bữa Thanh Quý đi học, bà dặn con cầm ba cây hương tới chùa Hưng Duyên ở gần trường, thắp hương lạy nguyện rồi mới vào trường.

Thanh Quý vâng lời mẹ, mỗi ngày đều y lời vào chùa thắp hương lạy Phật.

Một hôm, Thanh Quý đến chùa thắp hương cúng nguyện, vừa bước ra thì chợt thấy một tiểu thư ước độ tròn trăng, dung nhan xinh đẹp, tay dắt em nhỏ, ở ngoài cổng chùa đi vào.

Hai người dừng chân nhìn nhau, như có duyên từ kiếp trước, vừa gặp đã mến. Thanh Quý muốn hở môi đôi lời, nhưng còn ngại không biết ý nàng thế nào. Còn nàng thì cứ lấy tay vò đầu em, dáng vẻ e lệ, muốn đi lại không nỡ rời gót.

Mãi một lúc lâu, Thanh Quý sợ trễ buổi học mới đánh liều hỏi rằng: “Xin nàng cho ta hỏi đôi lời! Không biết nàng ở đâu mà nay đến chùa lạy Phật? Chẳng hay nàng đã để mắt đến ai chưa?”

Nàng nghe hỏi thì e lệ cúi mặt đáp rằng: “Cũng nhiều nơi đến hỏi mà cha thiếp chưa hứa gả nơi nào”.

Chàng nghe trả lời, thì có ý mừng, lại hỏi rằng: “Như ta đến hỏi có được chăng?”

Nàng làm thinh, chàng liền hỏi tới: “Vậy chớ nàng tên chi? Cha mẹ ở đâu? Xin cho ta biết ai thân thiết với lệnh đường, để ta đến cậy người mai mối”.

Nàng làm thinh một hồi, rồi đáp rằng: “Thiếp là Tiêu Bích Hà, còn cha là Tiêu Nhượng Đức, ở làng Ngọc Thanh. Cha thiếp có người bạn thân tên là Châu Khuyết Thành ở gần bên nhà, như có muốn sự chi, xin cậy người chắc sẽ thành”.

Thanh Quý nghe nói gật đầu, hai bên tạm từ biệt, chàng thì đi thẳng tới trường, còn nàng thì dắt em vô chùa lạy Phật, rồi trở về nhà.

Vài tháng sau, mẹ chàng sực nhớ người em, từ lúc nhậm chức Tri huyện ở xứ Linh Lăng, đã lâu mà chẳng hay tin tức, nên sai chàng đến dọ thăm.

Thanh Quý đi một tháng mới tới nơi, nào ngờ cậu chàng đã từ trần tháng trước, còn mợ và em đã bỏ về quê.

Đang lúc ấy, chàng ở trong cảnh ngàn dặm xa khơi, không thấy người quen, khiến chàng buồn bã muôn phần, định về thưa lại cho mẹ hay, mà tiền của lại hết, lấy chi làm lộ phí, còn ở lại thì biết ai mà nương cậy. Tính quẩn lo quanh một lúc lâu, Thanh Quý mới nghĩ ra cách đi tìm mấy nhà có con nhỏ, xin ở dạy học nuôi thân.

Mấy người ấy xem thấy chàng diện mạo khôi ngô, phong tư nho nhã, lại gặp cơn khuẩn bách như vậy, nên ai cũng động lòng thương xót, bàn nhau cất ngôi nhà nhỏ, trước để chàng dung thân, sau tiện bề dạy dỗ cho con họ. Từ đó chàng có nơi nương tựa, bớt dạ lo âu, nhưng việc riêng vẫn canh cánh trong lòng.

Một hôm, Thanh Quý đang ngồi nhớ mẹ, bỗng nghe ngoài ngõ có tiếng người rao rằng: “Ai mua già, thì già bán cho?”

Chàng nghe vậy liền chạy ra xem thử, thấy một bà lão ngoài sáu mươi tuổi, gương mặt giống hệt mẹ mình. Chàng bèn mừng mà hỏi: “Bà bán bao nhiêu tiền?”

Bà lão trả lời: “Ai mua già về làm mẹ thì già chịu, chớ già không lấy tiền gạo chi hết”.

Chàng đáp: “Vậy thì mời bà vô nhà, con xin mua”.

Từ đó, Thanh Quý thờ bà lão như mẹ đẻ, còn bà cũng xem chàng như con ruột. Bà lại siêng năng, làm nghề bông vải, kiếm tiền nuôi chàng ăn học cho kịp khoa thi.

Chàng thấy bà lão khổ cực mà không đành lòng, nhiều khi muốn đỡ đần cho bà, nhưng bà rầy mắng không cho. Bà hay đau ốm, mỗi lần đau thì lê mê lết mết, ỉa đáy cùng nhà, mà chàng cũng hết lòng thức khuya dậy sớm, đỡ xuống bồng lên, chạy thuốc chạy thầy, đút cơm đút cháo, giặt áo giặt quần, khổ cực không nài, tanh hôi cũng chịu.

Chàng chăm lo cho bà chẳng khác chi mẹ đẻ, cả khi bà chửi rầy mắng nhiếc, chàng cũng tỏ ra vui vẻ, không khi nào chau mặt nhăn mày.

Cứ thế mẹ con nương náu được hơn nửa năm. Một hôm chàng có việc ra ngoài, về nhà không thấy bà đâu, đi tìm khắp nơi mà không gặp.

Chàng trở về buồn bã, phần thì nhớ đức cù lao, phần thì nghĩ duyên hội ngộ ngổn ngang trăm mối bên lòng, thảm không xiết thảm, buồn không xiết buồn!

Đoạn này nói đến bà Lý thị là mẹ ruột của Thanh Quý, từ khi sai chàng đi thăm em là ông Huyện, đã lâu mà không thấy về, bà mỗi ngày lo lắng, thắp hương nguyện cầu Phật Quán Thế Âm, xin cho mẹ con được gặp nhau. Bà đang trông đứng trông ngồi, khóc lên khóc xuống, thình lình nghe tin giặc bao vây bốn phía, giết hại dân lành, bà con xóm làng rủ bà đi trốn.

Thương cho thân bà già yếu, chạy từ trưa đến tối, té ngã cùng đường, vừa đâu gặp một bà lão chạy tới nói: “Thôi! Tôi với chị bạn già với nhau, nhưng tôi còn mạnh hơn, để tôi dìu dắt chị đi cùng!”

Nói rồi nắm tay bà dắt chạy như gió, bà cũng ráng chạy theo mà chẳng biết đi về đâu.

Nhắc lại việc nàng Bích Hà, từ khi gặp chàng Thanh Quý tại chùa Hưng Duyên, về nhà ít bữa thì cha nàng lâm bệnh mà mạng chung, khiến nàng mang bao nỗi thương xót, buồn rầu. Lại chẳng hay tin người đã thề non hẹn biển cùng nàng, nên đêm ngày thương mây nhớ gió, mặt võ mình gầy, đã hơn một năm cũng chưa khuây lãng được.

Mấy công tử quyền quý vì mê nhan sắc của nàng, thay nhau cậy mối tới hỏi, nhưng nàng nhất định không ưng ai hết.

Một hôm, có tên Trương Thủ Hùng là con nhà giàu sang quyền tước ở làng bên, biết khó khiến nàng ưng thuận, mới lập mưu đem của hối lộ người bác của nàng tên là Tiêu Nhượng Nghĩa, sắm kiệu bốn người khiêng, rồi thừa lúc đêm cùng ông Nhượng Nghĩa đến nhà nàng gọi cửa.

Mẹ nàng nghe tiếng, liền bảo con dậy mở cửa cho bác vô. Hay đâu nàng mới mở cửa, thì bốn kẻ lưu manh đã ào tới bắt nàng lên kiệu, khóa cửa rồi lặp tức khiêng chạy.

Than ôi! Mẹ nàng chẳng biết vì sao con mình bị bắt nên nhào lăn khóc lóc, còn nàng ở trong kiệu giãy giụa kêu cứu, xiết bao thảm não!

Ngờ đâu trời chẳng dung gian, Phật lại thương người có nghĩa.

Kiệu mới đi được nữa đường, thì bỗng đâu có bốn người đón lại nói rằng: “Cậu ở nhà bảo tôi đến đây thay vai cho các anh”.

Bốn đứa đang khiêng kiệu đã mỏi mệt, nghe nói vậy thì mừng rỡ thả kiệu xuống. Bốn người kia liền xúm lại kề vai khiêng kiệu ấy chạy thẳng đến nhà chàng Thanh Quý, đặt trước sân rồi đi mất.

Còn bốn tên khiêng kiệu kia và ông Nhượng Nghĩa biết bị lừa, chạy theo quyết giật lại nhưng theo không kịp, đành trở về thuật chuyện cho Trương Thủ Hùng rõ.

Đêm ấy, chàng Thanh Quý đang ngồi rầu rĩ, thoạt nghe trước sân có tiếng người than khóc, lật đật mở cửa ra xem, thấy kiệu để đó, trong lại có tiếng khóc la.

Chàng ở ngoài nghe nói lấy làm lạ, bèn dùng lời hòa nhã, ôn tồn hỏi rằng: “Vậy ai ở trong kiệu đó, có việc chi oan ức, xin tỏ hết đầu đuôi để tôi được rõ, tôi chỉ là người dạy trẻ, không biết việc chi cả”.

Nàng nghe nói vậy nửa tin, nửa ngờ, ngẫm nghĩ một hồi, rồi đáp lại rằng: “Chớ ai bắt tôi bỏ vào kiệu mà khiêng đến đây?”

Chàng nói: “Nam Mô A Di Đà Phật! Tôi ở đây thiệt không biết việc ấy. Vậy chớ nàng ở đâu, con của ai và tên họ chi mà bị bắt như vậy?”

Nàng ở trong kiệu nghe tiếng niệm “Nam Mô A Di Đà Phật” thì biết người nói chuyện với mình là người hiền lương, có đạo đức, nên hết nghi ngại mà trả lời rằng: “Thiếp là con gái của ông Tiêu Nhượng Đức, tên là Bích Hà, ở làng Ngọc Thanh, nửa đêm bị bọn cướp lập mưu với người bác đến nhà bắt thiếp bỏ vào kiệu rồi khiêng đến đây. Thiếp là gái đã có chồng, thà chịu chết, chớ chẳng chịu thọ điều nhơ nhuốc”.

Thanh Quý nghe nói mấy lời, trực nhớ đến nàng là người cùng chàng hứa hẹn se dây kết tóc buổi còn đi học tại quận Quế Dương, lại hỏi rằng: “Ta xin hỏi điều này, vậy chớ nàng có phải là người tháng giêng năm kia, đến chùa Hưng Duyên mà lạy Phật đó không?”

Nàng Bích Hà hỏi lại: “Thầy là ai mà biết thiếp từng đến chùa ấy?”

Chàng đáp rằng: “Ta là Phan Thanh Quý, khi đó cũng đến chùa Hưng Duyên, gặp nàng đi với em, nên được chuyện vãng một hồi và nàng có tỏ việc ông Châu Khuyên Thành cho ta rõ, nhưng từ ấy đến nay, ta vì lao đao lận đận, phiêu bạt đến chỗ này, nên chưa làm tròn lời hứa”.

Nàng nghe nhắc đến viêc cũ, khóc òa mà rằng: “Vậy đúng là chàng đó sao? Thiếp vì chàng mà khổ thế này, chàng có biết hay không?”

Chàng Thanh Quý vội chạy vào nhà bưng đèn ra soi mà phá kiệu cứu nàng.

Lúc ấy hai bên trong thấy rõ ràng, mặt nhìn mặt càng thêm tươi, làm cho lỡ khóc lỡ cười với nhau. Đang trò chuyện thì bỗng nghe ngoài sân có tiếng rằng: “Thôi! Bà vô nhà đó thì có con và dâu bà đủ cả”.

Thanh Quý nghe nói vậy bèn bưng đèn bước ra, thấy một bà lão, nhìn lại thật là mẹ đẻ của mình, chàng mừng mà khóc rằng: “Thưa mẹ! Con thật là bất hiếu, sao mẹ lại đến đây được?”

Bà Lý thị bèn hỏi: “Chớ con ở đây hồi nào?”

Hai mẹ con vào nhà, khóc lóc một hồi, rồi bà Lý thị mới đem chuyện chạy giặc cực khổ và chuyện gặp bà lão mà thuật lại cho Thanh Quý nghe hết đầu đuôi.

Chàng bèn hỏi bà lão ấy diện mạo ra sao. Mẹ vừa nói ra chàng đã biết ngay là bà lão chàng mua về nhận là mẹ nuôi bữa trước, rồi chàng thuật lại việc người cậu chết, chuyện mẹ nuôi, đến sự gặp nàng Bích Hà cho mẹ ruột nghe.

Cách vài bữa sau, bà Lý thị định ngày làm lễ thành hôn cho con. Buổi lễ tuy chẳng có trà lang rượu cúc, ve ngọc chén ngà như các đám giàu sang, nhưng môn đồ và thân chủ đến dự rất đông, người mừng phước hậu, kẻ chúc duyên lành, vui vẻ chuyện trò.

Từ đó về sau, nhờ tấm lòng hiếu nghĩa cảm Phật, mẹ con được sum vầy, chồng vợ hòa thuận. Qua năm sau, nàng Bích Hà lại sanh được một trai, diện mạo khôi ngô, giống tạc như cha.

Sau chàng Thanh Quý thi đậu Cử nhân, rồi đắc lộ làm quan, dựng nên nhà cửa thênh thang thật là giàu sang vinh hiển, đúng là nhờ hiếu nghĩa cảm Phật.

Một hôm, ba mẹ con cùng nghĩ đến bà mẹ mua của chàng ngày trước, chắc không phải người thường, biết làm sao mà thù ơn báo đức cho được. Đêm ấy bà Lý thị nằm chiêm bao, thấy vị Thần mặt đỏ râu dài, gọi lại bảo rằng: “Bà lão dắt ngươi chạy giặc và làm mẹ nuôi của con ngươi đó, tức Phật Quán Âm thờ tại chùa Hưng Duyên. Vì ngài cảm ngươi có lòng tín ngưỡng, còn con ngươi có tấm lòng hiếu nghĩa cảm Phật, nên mới hiện thân cứu giúp cả nhà ngươi, khiến mẹ gặp con, chồng gặp vợ như vậy”.

Bà Lý thị giật mình thức dậy, thuật lại điềm chiêm bao cho các con nghe, cả nhà đều đội ơn đức của Phật Quán Âm, bèn sắm sửa lễ vật về chùa Hưng Duyên cúng dường, rồi xuất tiền trùng tu lại chùa cực kỳ trang nghiêm và còn cấp bạc hàng tháng cho sư tăng tu hành trong chùa.

Qua câu chuyện hiếu nghĩa cảm Phật cho ta thấy, tuy mẹ con bà Lý thị nghèo túng mà lòng tín ngưỡng cúng Phật chẳng khi nào dừng, lại thêm giữ trọn bốn bề hiếu kính, còn như chàng Thanh Quý là một người con hiếu đạo, dù là mẹ ruột hay người mẹ mua, chàng đều đắp lạnh quạt nồng, thành tâm phụng dưỡng nên cuối cùng cả nhà được hưởng hạnh phúc phong quan, vì vậy chúng ta nên noi theo tấm gương hiếu nghĩa cảm Phật của chàng.

Cảm ơn mọi người đã xem hết bài viết “Câu chuyện nhân quả hiếu nghĩa cảm Phật”. Xem thêm các bài viết hay về nhân quả ở link bên dưới.

Câu chuyện nhân quả tin Phật Phật độ

Câu chuyện nhân quả một người con gái mộ đạo

Câu chuyện nhờ tu hành nên vợ cứu chồng khỏi họa

Theo Dõi Taonon.vn trên Facebook Tại Đây

# Xem thêm

Viết một bình luận