Câu chuyện nhân quả không ham sắc được quả tốt

Câu chuyện không ham sắc được quả tốt xảy ra vào đời vua Vạn Lịch, nhà Minh. Kể về hai người học trò lớp nhất, đều được 17 tuổi, khôi ngô tuấn tú.

Không ham sắc được quả tốt

Một người tên là Phan Tái An, con của qua Thượng thư, tính tình quái xảo, lẹ miệng lanh lời. Hễ thấy gái xinh, thì như ruồi thấy mật.

Còn một người tên Lưu Đức Tú, con một bà góa ở trong thành, tính tình chất phác, ít ăn ít nói, dầu gặp gái đẹp cũng không hề xao động.

Hai người học trò ấy, tuy tánh ý không giống nhau nhưng lại rất thân thiết với nhau.

Lưu Đức Tú hiềm nỗi ở nhà rộn rực, nên ra ngoài thành tìm nhà người vú nuôi lúc nhỏ xin ngụ tại một cái nhà mát, lợp tranh để thanh tịnh đọc sách.

Từ khi Đức Tú ở riêng ngoài thành, thì Tái An có hơi buồn chán, nên thường tìm đến nhà mát ấy viếng thăm.

Mẹ vú của Đức Tú tên Vương Mạ Mạ, có người con gái nuôi, tên là Xuân Thơ, tính nết khôn lanh, hình dung đẹp đẽ, năm nay vừa tròn 16.

Lúc có Đức Tú đến ngụ, thì nàng hằng nhìn xem diện mạo, trai tài gái sắc xứng đôi, cội ái nguồn ân xúc động.

Tuy lòng chàng Đức Tú chỉ chăm trên quyển sách, mà lòng nàng Xuân Thơ thì chăm nơi mình chàng, nên mọi việc chỗ Đức Tú ở, dầu bà Vương Mạ Mạ không sai biểu, thì nàng cũng cứ lệ lo làm.

Một ngày kia, chàng Đức Tú về nhà thăm mẹ ruột, bèn thuật lại hết các việc mẹ vú nuôi dưỡng ân cần và nàng Xuân Thơ hầu hạ sốt sắng.

Mẹ chàng nghe nói vậy, bèn bảo Đức Tú mang gói trà ngon dâng cho mẹ vú uống, còn cái khăn tay thì thưởng cho nàng Xuân Thơ.

Việc ấy là lễ thù tạc thành thật, mà nàng Xuân Thơ lại tưởng là có tình, nên đến buổi chiều nàng qua phòng học của chàng Đức Tú cảm ơn mãi không thôi.

Đêm đó chàng Đức Tú học bài đến tận khuya. Còn nàng Xuân Thơ cũng không ngủ, một lát đem trà mời uống một chập đem bánh mời ăn.

Chàng Đức Tú thấy vậy cũng cho là thường, chớ không hề nghi ngại cho nàng có tình ý chi cả.

Đúng 12 giờ khuya, chàng bèn đóng cửa và tắt đèn đi ngủ, lại nghe có người ở ngoài gõ cửa, chàng liền lên tiếng hỏi thì nàng Xuân Thơ bảo là đem trà đến cho chàng uống và có việc cần thưa.

Chàng Đức Tú liền nói: “Tới giờ ta đi ngủ, nên ta không uống trà nữa. Đêm khuya tăm tối, nàng là gái không chồng, còn ta là trai chưa vợ, nếu chuyện vãng thì sợ thiên hạ nghi nan”.

Chàng nói đến đó lại giả ngủ, nàng hỏi gì, chàng cũng không trả lời lại.

Nàng Xuân Thơ trở về nằm xuống giường càng nghĩ càng buồn, trằn trọc mãi cả đêm không an giấc, đến chừng rạng đông mệt mỏi mà ngủ quên lúc nào chẳng hay.

Sáng ngày, chàng Đức Tú thức dậy, không thấy nàng Xuân Thơ đem nước như mọi khi, nên chàng xuống nhà dưới rửa mặt, rồi thưa với Vương Mạ Mạ rằng trong mình thấy không khỏe, nên về nhà nghỉ ít tháng.

Đây nói qua Tái An, từ khi đến lui thăm viếng Đức Tú, thấy nàng Xuân Thơ dung mạo xinh đẹp, chàng đã ngày đêm tơ tưởng, nhưng vì ngại Đức Tú, nên chàng chưa dám thả giọng bướm ong, chỉ dám liếc mắt đưa tình, dòm hoa tiếc liễu mà thôi.

Còn nàng Xuân Thơ lúc đó vì đã nặng tình với chàng Đức Tú, nên thấy Tái An cũng như không thấy.

Nay Tái An đến viếng, gặp bà Vương Mạ Mạ, mới biết Đức Tú đã về nghỉ, nên chàng rất đỗi vui mừng, liền nói với bà Vương Mạ Mạ rằng:

“Đức Tú đã về rồi, thì cái nhà mát bỏ không, vậy bà cho tôi ở đó để đọc sách, vì tôi ưa nhà ấy yên tĩnh, thoáng mát, tiền bạc tôi xin trả gấp hai cho bà”.

Bà Vương Mạ Mạ nghe nói trả tiền bằng hai thì chịu liền.

Đây nói đến nàng Xuân Thơ khi có chàng Đức Tú ở nhà mát ấy, thì nàng không để ý đến chàng Tái An. Nay không có Đức Tú nữa, nàng xem Tái An kỹ lưỡng rồi tự nghĩ rằng: “Đức Tú bất quá là con của người đàn bà góa, mà tánh lại chần chờ phách lối, không biết ơn nghĩa là gì! Còn Tái An là con của quan lớn đương triều, giàu sang trên thế, mà chàng lại tốt tính vui vẻ, học giỏi có danh, chi bằng mình cùng chàng, họa may được thỏa lòng mơ ước”.

Nàng nghĩ như vậy rồi, bưng trà đến phòng học, mời chàng uống rồi buông lời trêu ghẹo rằng: “Đức Tú ở đây sợ lạnh nên về mất, còn công tử không sợ lạnh sao?”

Tái An bèn nói: “Đức Tú ỷ tài tự phụ, không biết dùng người nên mới sợ lạnh, còn tôi mền mùng kỹ lưỡng, quần áo dính dư, lại biết dùng người, làm sao lạnh được”.

Tối đến, chàng còn đọc sách, thấy nàng đem trà đến pha rồi mời uống, thì liền xếp sách dẹp cất, không cần xem đọc chi nữa, để trò chuyện cho thỏa tình. Lạ gì mèo đã gặp mở, bí sẵn chờ ong, nói năng chưa được vài câu đã tắt đèn đóng cửa.

Hai người ở bên nhau trót luôn hai tháng, nghĩa nặng tình nồng, nên chàng Tái An đâu còn kể tới sự đọc sách chi nữa.

Đến tháng mười, gặp khoa Đại Tỵ, cha chàng là quan Thượng Thư, gọi chàng về để sửa soạn vào thi, vì ngài biết tài học của con, chắc thế nào cũng chiếm được bảng vàng.

Gần ngày thi, nửa đêm quan Thượng thư nằm chiêm bao thấy một vị thần, cân đai tề chỉnh, đến mách bảo rằng: “Con của ngài vì làm nhiều chuyện khuy tâm, tổn hao âm đức, nên kỳ thi này không thể nào đậu được”.

Quan Thượng thư giật mình thức dậy, tuy nhiên ông chẳng tin điều mộng ấy.

Đây nói đến kỳ thi, tuy chàng Tái An học giỏi hơn chàng Đức Tú, nhưng vì chàng thường gần gũi nàng Xuân Thơ, bỏ đèn sách đã lâu, lại tinh thần uể oải, nhớ trước quên sau, nên văn lý của chàng tầm thường, không có chi là xuất sắc.

Còn chàng Đức Tú cũng vào thi, mà văn lý đều thật như phun châu nhả ngọc, ai nấy xem thấy cũng đều khen ngợi, nên đến kỳ niêm yết bảng, thấy đề tên chàng đậu Cử nhân thứ nhì, quả là không ham sắc được quả tốt, còn tên Tái An không thấy ở khoảng nào cả.

Chừng ấy, quan Thượng thư mới biết điềm chiêm bao linh ứng, liền gọi Tái An đến gặng hỏi chàng có làm điều chi thất đức hay không, thì chàng chối bai bải.

Quan Thượng thư nổi giận, liền bắt chàng nhốt trong phòng kín, không cho ra ngoài thành, từ ấy chàng với nàng Xuân Thơ cách biệt hai phương, đêm trông ngày nhớ.

Đây nói đến chàng Đức Tú nhờ không tham sắc được quả tốt, nên khi thi đậu Cử nhân, chàng trở về nhà lạy yết ông bà cha mẹ và mở yến tiệc thết đãi bà con suốt chín mười ngày.

Đến tháng hai năm sau, nhằm kỳ thi hội, Đức Tú thưa với mẹ xin phép đến ngụ tại chùa Từ Quang ở trong thành để có nơi yên tĩnh mà lo việc đèn sách, chờ ngày giật bảng giành cờ.

Khi chàng đến chùa, thì thấy có vị Cử nhân, tên là Phùng Nhựt Thăng, 20 tuổi, đại danh lừng lẫy, hình tướng tốt tươi, đã ngụ trước tại đó mà chờ kỳ thi hội.

Hòa thượng cho dọn một phòng cho Đức Tú ngay cạnh phòng Nhựt Thăng, nên hai người càng trở nên thân thiết.

Thuở đó, quan Thừa tướng triều Minh có cô con gái, tên là Lan Hương, vừa tròn 17 tuổi, sắc nước hương trời, cầm kỳ thi họa đều tinh thông, mà trót năm Mậu Tý nàng đau ốm liên miên, hết bệnh này sanh bệnh khác, thuốc thang không hiệu, bùa chú không linh.

Sang tháng chạp, vợ chồng quan Thừa tướng bàn với nhau đem nàng vào chùa Từ Quang ngụ ít tháng, để cầu kinh tụng trì, họa may nhờ ơn đức của Phật mà khỏi bệnh.

Bà Đổng Nương là vú nuôi của nàng Lan Hương, nghe hai vợ chồng quan Thừa tướng tính như thế, bèn bẩm rằng: “Bẩm quan lớn! Chùa Từ Quang linh lắm, hễ ai có bệnh hoạn đến đó cầu khẩn thì chắc mạnh, nhưng có điều gay là người cầu bệnh nếu có tà niệm, thì phải thác ngay, vì đã nhiều người gặp cảnh ấy, nên trước sau phải suy tính cho kỹ”.

Quan Thừa tướng đáp rằng: “Con ta phận gái mà văn tài không kém chi trai, lại tự biết trọng bề danh giá, huống lại con nhà đài các ai dám xâm khuy! Ngươi chớ lo xa mà nhọc trí!”

Quả nhiên nàng Lan Hương đến chùa Từ Quang cầu kinh mới được vài ngày mà bệnh tình thuyên giảm. Nàng thường khi ra vào, thấy chàng Nhựt Thăng cũng ở đó, trai tài gái sắc, xướng họa phú thi, ban đầu nét chữ câu văn, sau lại thả ong quyến bướm.

Nàng Lan Hương hỏi thăm mới biết Nhựt Thăng đã có vợ, nên nàng nói rằng: “Khoa hội này cha thiếp làm Chánh chủ khảo, nếu chàng bằng lòng bỏ vợ mà kết duyên cùng thiếp thì lo chi chức Trạng nguyên về tay người khác”.

Nhựt Thăng thấy nhan sắc Lan Hương xinh đẹp, nghe nàng nói vậy rất đỗi vui mừng và thề rằng: “Nếu ta thi đậu, sẽ lập tức về quê đuổi vợ mà cưới nàng”.

Hai đàng ân ái với nhau, tình nặng nghĩa nồng mà trong chùa không ai hay biết.

Nàng Lan Hương đúng thật là phường lả lơi “bánh men đã muốn, chả cuốn càng ham”. Thế nên khi thấy chàng Lưu Đức Tú cũng đến ngụ tại chùa đèn sách chờ khoa thi, biết chàng là Cử nhân tân khoa, lại thêm trai tơ chưa vợ, nàng cũng thừa lúc thanh vắng đến thả đủ lời hoa tiếng nguyệt.

Nàng trăm lần như một, mỗi lần nàng buông lời trêu ghẹo, chàng Đức Tú chỉ đáp lại hai chữ “Mô Phật” mà thôi.

Đây nói đến kết quả khoa thi, thì Phùng Nhựt Thăng đậu Trạng nguyên và Lưu Đức Tú cùng bốn người khác đậu Tiến sĩ, bảng đính đã xong, chỉ đợi sáng ngày minh yết.

Đêm ấy canh ba, vua Vạn Lịch nằm chiêm bao thấy một vị Hòa thượng y bát trang nghiêm, đến trước bệ rồng mà yết kiến.

Vua phán hỏi rằng: “Hòa thượng ở đâu mà đến đây viếng Quả nhân?”

Hòa thượng đáp lại rằng: “Bần tăng ở chùa Từ Quang, có việc cần, nên đến hỏi thăm bệ hạ một điều. Vậy khoa thi hội này, bệ hạ muốn chọn nhân tài mà kinh ban tế chăng?”

Vua đáp: “Chính như thế đó”.

Hòa thượng nói: “Nếu vậy sao bệ hạ cho quỷ đậu Trạng nguyên, còn Phật không cho đậu chức ấy? Sách có chữ rằng: “Phật năng cứu thế, quỷ đa nhiễu nhân”. Vậy xin bệ hạ đổi lại cho Phật đậu Trạng nguyên, tốt hơn là để quỷ dành chức ấy”.

Vua hỏi: “Cứ như lời ngài nói, thì Phùng Nhựt Thăng là quỷ hay sao?”

Hòa thượng tâu: “Người đã thác rồi, vậy không phải là ma hay sao?”

Vua lại hỏi: “Còn ngài bảo Quả nhân đổi lại để cho Phật đậu Trạng nguyên, thì biết ai là Phật mà đổi?”

Hòa thượng lại tâu: “Người ấy đức vọng rất lớn, mỗi lần niệm câu “Mô Phật” đều động đến Thiên đình, người ấy ngày sao phò vua giúp nước, sự nghiệp càng thêm lớn mạnh. Xin bệ hạ xem lại những quyển thi của các vị tiến sĩ mà thấy quyển nào có ửng lộ ra chữ “Phật”, thì đích thị người ấy”.

Hòa thượng nói rồi, liễn cưỡi mây lành hay mất.

Vua Vạn Lịch giật mình tỉnh giấc, người vã mồ hôi, lòng hoang mang suy xét lại điềm mộng ấy. Sáng hôm sau, vua cho truyền thuộc hạ soạn quyển thi của các vị Tiến sĩ đem đến long án, để kiểm duyệt lại.

Nguyên khoa hội này cả Trạng nguyên và bốn vị Tiến sĩ, cộng lại là năm người.

Vua xem quyển thi của bốn vị Tiến sĩ, thấy quyển của Lưu Đức Tú mỗi chương đều có ửng hai chữ “Mô Phật”, nét vàng rất lớn, và xem lại bài viết quả là hàng gấm trải, chữ ngọc đeo, vua định đổi bỏ tên Phùng Nhựt Thăng mà lấy tên Lưu Đức Tú cho đậu Trạng nguyên liền khi đó.

Nhưng lại nghĩ: “Trong điềm mộng, vị Hòa thượng nói Phùng Nhựt Thăng đã thác rồi, ta thử hỏi lại, nếu đúng như thật, sau đổi tên cũng chẳng muộn”.

Vua nghĩ vậy rồi xuống chiếu đòi Phùng Nhựt Thăng vào triều yết kiến.

Quan Hoàng môn lãnh chiếu đi rồi trở về tâu rằng: “Muôn tâu bệ hạ! Phùng Nhựt Thăng mới thác tại chùa Tử Quang trong thành, cả con gái quan Thừa tướng cũng mới thác tại chùa. Hai người phát bệnh một lượt, giây lát cùng từ trần”.

Vua nghe tâu rất đỗi bàng hoàng, vội phê vào quyển thi của Lưu Đức Tú bốn chữ “Trạng nguyên cập đệ”, rồi truyền đem ra yết tại ngọ môn.

Thuở ấy vua Vạn Lịch có một nàng Công chúa, tên là Nguyệt Chiếu, được 16 tuổi, hình dung yểu điệu, diện mạo đoan trang, hoa nhường nguyệt thẹn.

Vua thấy quan Trạng tuổi trẻ tài cao, bèn đòi vào bệ rồng mà hứa gả Công chúa, và hỏi rằng: “Quan Trạng có tu hay không?”

Quan Trạng thưa: “Muôn tâu bệ hạ! Thần không có tu”.

Vua lại hỏi: “Quan Trạng không tu vậy có niệm Phật hay không?”

“Muôn tâu bệ hạ! Thần cũng không niệm Phật”.

“Quan Trạng có ở chùa nào không?”

“Muôn tâu bệ hạ! Thần có tạm ở chùa Từ Quang”.

Vua Vạn Lịch nghe Lưu Đức Tú trả lời rằng có ở tại chùa Từ Quang, thì gật đầu luôn đôi ba lần và hỏi tiếp rằng: “Quan Trạng không tu vậy ở chùa làm gì?”

Lưu Đức Tú đáp lại rằng: “Muôn tâu bệ hạ! Trước khi thi hội, thần có đến chùa ấy tìm nơi thanh tịnh mà đọc sách”.

Vua bèn hỏi rằng: “Khi ở chùa, quan Trạng có lúc nào niệm hai chữ “Mô Phật” hay không?”

Nghe vua hỏi đến, Lưu Đức Tú mới nhớ lại ở chùa Từ Quang, mỗi lần nàng Lan Hương trêu hoa ghẹo nguyệt, chàng đều đáp lại hai tiếng “Mô Phật”, nên chàng bèn đem việc ấy tỏ hết đầu đuôi, vua nghe xong hết lời khen ngợi.

Hôm sau, Lưu Đức Tú vào triều lạy dưới bệ rồng mà lãnh chức Phò mã, vua truyền cho quan Khâm Thiên Giám coi ngày tốt để cho Trạng nguyên và Công chúa động phòng hoa chúc.

Khi hoa chúc trọn ba ngày ba đêm rồi, vua đòi Phò mã vào triều mà phong chức Tham tri trong viện Cơ mật, lại phong hàng Tứ phẩm cho ông bà cha mẹ của chàng, quả đúng là không ham sắc được quả tốt.

Một hôm, quan Trạng nguyên đến dự yết tại dinh quan Thượng thư, thấy có quan kỹ ra đàn ca hát xướng. Trong đó có một nàng hình dung yểu điệu, xinh đẹp hơn hẳn các cô còn lại, dâng rượu đến trước mặt quan Trạng, rồi khoanh tay cuối đầu mà thưa rằng: “Hai ba tháng nay chẳng được tin, bẩm trước đây thiếp có hầu mà ngài còn nhớ chăng?”

Trạng nguyên nghe nói vậy, chăm chú nhìn một lúc lâu mà chẳng biết nàng ta là ai.

Các quan đang dự tiệc, thấy vậy bèn vỗ tay cười mà nói rằng: “Quan Trạng không gần sắc sao lại có nàng chiêu đãi hầu mấy tháng trời?”

Trạng nguyên bèn hỏi: “Nàng nói có hầu ta hai ba tháng, vậy nàng hầu lúc nào, tên nàng là chi và ở tại đâu?”

Nàng ấy đáp rằng: “Thiếp là Xuân Thơ, lúc quan Trạng còn ngụ học tại nhà mẹ thiếp, thiếp có hầu hạ ngày hai tháng”.

Trạng nguyên nghe nói như vậy, liền nhớ lúc ngài ngụ học tại nhà mát của Vương Mạ Mạ, rồi vì nửa đêm nàng đến phòng trêu hoa ghẹo nguyệt, nên ngài buộc lòng phải thôi ở chỗ đó.

Trạng nguyên thấy nàng Xuân Thơ nay phải vào hàng đàn ca hát xướng như thế, bèn hỏi rằng: “Vì sao nàng đến nỗi này?”

Nàng nghe hỏi đến sự ấy, thì hai hàng nước mắt tuôn rơi mà đáp lại rằng: “Bẩm quan Trạng! Từ khi ngài thôi ngụ nơi nhà mẹ thiếp, thì có Tái An đến xin ở. Phận thiếp phải lui tới hầu hạ chàng cũng như hầu hạ ngài thuở ấy vậy.

Ngờ đâu chàng có lòng lang dạ thú, trở lại trêu ghẹo làm thiếp phải xiêu theo ý muốn của chàng mà bên nhau trọn hai tháng”.

Sau chàng về thi hương, nghe đồn cùng thi một lượt với ngài, mà ngài đậu Cử nhân, còn chàng thi hỏng, nên cha chàng gửi bảo thiếp vào trong cửa thành, thì có người của chàng sai đến rước về hiệp hội. Chẳng ngờ thơ ấy là giả, vì người đón thiếp đó lại dẫn đem bán cho nhà ca kỹ, nên mới ra đến nỗi này”.

Trạng nguyên nghe nàng Xuân Thơ tỏ hết cảnh đời như thế, thì ngài động lòng thương, liền nói với các quan đang dự yết đó rằng: “Nàng ta quả có công hầu hạ tôi, mà nay lại thất thân nhằm người gian trá. Vậy xin các ngài vị tình ta mà dung cho nàng khỏi hầu rượu, rồi đây ta sẽ sai người đi đòi mẹ nàng đến mà cho tiền đem chuộc về”.

Các quan thấy vậy, đều ngợi khen quan Trạng có lòng nhân đức.

Nhờ không ham sắc được quả tốt, Trạng nguyên sau được nay bổ mai thăng, lần hồi đến chức Thừa tướng, còn Công chúa sau sanh được ba vị hoàng tử, đều nói dòng khoa giáp, tiếp gót điện đình.

Qua câu chuyện nhân quả không ham sắc được quả tốt, giúp chúng ta rút ra được bài học làm người phải giữ lễ nghĩa, tu tâm dưỡng tính, phải biết giữ mình, không nên để bản thân sa ngã mà mang họa vào thân.

Cảm ơn mọi người đã xem hết bài viết “Câu chuyện nhân quả không ham sắc được quả tốt”. Xem thêm các bài viết hay về nhân quả ở link bên dưới.

Câu chuyện sát nghiệp chiêu báo quả báo giết trâu

Câu chuyện nhân quả người đức độ thêm thọ được con

Câu chuyện nhân quả tu hành cần có giới đức

Theo Dõi Taonon.vn trên Facebook Tại Đây

# Xem thêm

Viết một bình luận