Câu chuyện nhân quả thí ít được nhiều

Câu chuyện thí ít được nhiều kể về Trú Ảm sơn là một cảnh u nhã ở giữa không gian bao la trên quả đất Diêm Phù.

Thí ít được nhiều

Núi ấy một màu huyền ảo, kề mảnh ráng đỏ vàng rực rỡ bên chân trời xa thẳm, thật đẹp như cảnh thần tiên, nức tiếng là danh sơn thắng cảnh đời trước.

Phần nhiều bậc xuất tục thánh hiền, thanh tu tăng chúng, thường ẩn nơi đó mà hy vọng đắc quả viên mãn.

Từ hàng nam nữ bình dân bổn xứ, đến những bậc thượng lưu trí thức ở các nơi, ai ai cũng đều đua nhau đi xem thắng cảnh ấy và dâng cúng các bậc thánh Tăng, để thỉnh vấn đạo cho biết đường tu hành.

Thuở đó, có một ông Trưởng giả, gia tư thiên phú, tánh hạnh hiền nhân, đã bao phen làm điều phước thiện, bố thí những thuốc thang gạo tiền, nên đám bình dân nội vùng đó nhờ ông mà được mọi bề yên ổn.

Ngoài sự tu tâm tích đức như vậy, ông trưởng giả lại có sẵn lòng kính Phật trọng Tăng, ăn chay giữ giới rất tinh tấn.

Một ngày kia, ông mua sắm đủ những lễ vật trân quý, và dẫn gia quyến lên núi Trú Ảm Sơn mà cúng Phật trai tăng, hầu trồng thiện căn về kiếp khác.

Luồng cát tung lên quây quần dưới ánh nắng, sau mấy cái xe sơn son thiếp vàng lộng lẫy, chở những người ăn mặc mỹ lệ như tiên nữ xuống trần. Lúc ấy, có một cô gái ăn mày thấy vậy, trong thâm tâm cô sanh ra một mối cảnh tưởng rằng: “Có lẽ ông trưởng giả này đi lên núi mà dâng lễ cúng Phật trai tăng và lập đàn bố thí. Vậy thì ta cũng nên lẹ bước theo sau đến nơi đó, mà xin chút ít để dành nuôi thân cho qua ngày tháng”.

Đến Trú Ảm Sơn, lầm bước vào pháp hội, nàng liếc mắt bốn bề, rảo chân đi coi từng chỗ nào là nơi Phật điện, nào là chốn Tổ đình, đều có trần thiết mọi phẩm vật trai nghiêm, cỗ bàn la liệt.

Nàng thấy vậy, bèn thầm nghĩ trong trí rằng: “Đời trước, người ta trồng nhiều giống phước, tu nhiều duyên lành, cho nên nay trổ bóng tốt đẹp, kết quả sang giàu, mọi đều vui thú ở thế gian đều được hưởng cả.

Thế mà nay họ còn lo tích đức tu nhơn, mong được phần công đức thù thắng hơn nữa, huống chi ta đây kiếp trước không gieo giống phước lạc, nên nay kết trái bần cùng mà không sớm lo cải tạo, thì đời sau e cho ta còn lắm hồi nguy kịch, biết nhờ ai ra tay độ thoát!”

Suy nghĩ trước sau như thế rồi, nàng tự thương tâm, mặt lộ vẻ ủ dột, đôi hàng nước mắt nhỏ ròng ròng

Hiển nhiên nàng nhớ lại rằng: “Khi trước ta từng đãi phẩm, lượm được hai đồng tiền kẽm, lâu nay ta vẫn cất kỹ, đề phòng khi nào đi xin không được chi cả, thì sẽ lấy nó ra dùng. Nay gặp dịp này, ta cũng nên đem đồng tiền ấy ra bố thí cho chúng tăng, dầu ta nhịn ăn một vài ngày, cũng không đến nỗi chết”.

Lệ thường theo quy tắc của nhà Thiền xưa nay, hễ có thí chủ nào đến chùa dâng hương cúng Phật, thì thầy Duy-ca phải đứng ra nguyện chú cho

Song ngài thượng tọa thống lý đại chúng, khi thấy nàng ăn mày đó lạy mình, rồi tỏ ý muốn cúng hai đồng tiền kẽm, thì ngài lại ân cần đắp y ra trước chánh điện mà niệm hương cầu nguyện, chớ không bảo thầy Duy-ca làm việc như thường lệ.

Các hàng Hạ tọa thấy vậy đều khởi lòng hiềm, và nghĩ rằng: “Sá chi hai đồng tiền kẽm của người con gái ăn xin, mà ngài Thượng tọa tự khinh mình đứng ra chú nguyện, còn thường khi có kẻ khác đến cúng tiền nhiều hơn, sao không thấy ngày sốt sắng như bữa nay? Thật chúng ta không biết nghĩa gì mà đạt lượng!”

Khi cúng rồi tới buổi ăn cơm, thì ngài thượng tọa lại sớt nửa phần cơm và đồ ăn bánh trái của mình cho người con gái ăn xin. Nôi đàn tri tố thấy ngài trọng đãi người bần nữ như vậy, thì ai cũng đều trọng đãi theo mà cho nàng nhiều vật thực.

Lúc ra về, nàng rất mừng, bèn nói thầm: “Quả nhiên Phật pháp có cái oai linh nhiệm mầu, nên ta vừa cúng có hai đồng tiền kẽm mà liền được cái hoa báo mĩ mãn, một gánh đồ nặng hoằng như vậy, thì tưởng lại sự quả báo sau đây sẽ có phần phong lạc hơn nữa”.

Vừa gánh, vừa đi, vừa thầm thì suy nghĩ mãi như thế bất giác nàng đã đến một đám cây cao lá rậm, che khuất ánh sáng mặt trời.

Nàng bèn dừng chân, đem cơm bánh ra ăn rồi nằm nghỉ, đợi dịu nắng sẽ lần xuống núi.

Trong lúc ấy, nàng nghe nước reo dưới suối, thấy chim hót đầu cành, những dây leo quấn trên nhành thả vòi xuống rung rinh theo từng lượng gió, như bức mành của hóa công thêu thắt, để cho ai là khách yêu phong cảnh, thích bước du sơn, đến đó mà thưởng thức.

Bao nhiêu nỗi lo buồn vất vả chứa trong tâm trí của nàng bấy lâu, nay đã dần dần phai lặn, mà đổi lại lắm vẻ khoan khoái lạ lùng, làm cho nàng tưởng cũng như đang sống trên một cõi đời đầm ấm.

Buổi ấy, hoàng hậu của một vị quốc vương nước họ tách bước băng hà đã lâu rồi, nhưng vua chưa thể chọn được người phụ nữ nào hiền đức, để kế chức mà duy trì bề trong vương thất. Nên vua đòi các bậc học vấn uyên thâm, giỏi nghề xem tướng đến triều, rồi ban cho sắc mạng ngựa xe, sai đi khắp miền sơn lâm thôn giả, tuyển trạch một người tài đức vẹn toàn, mà rước về sung chức hoàng hậu.

Các tướng sư vâng lệnh đi khắp miệt thị thành cùng miền thôn giả mà lựa không được một người nào, khi đi ngang triền núi Trú Ảm Sơn, thấy ánh sáng chói lòa trong đám rừng rậm, thì lấy làm lạ, liền giục ngựa tới xem.

Khi thấy mỹ nhân nằm trên tấm đá bằng phẳng, gương mặt ửng hồng như đóa hải đường đượm sương sớm, đôi mày đen đạm tợ liềm trăng lững đững trên mây, thân thể tứ chi thảy đều phì mỹ, xem có vẻ phước hậu vô song, tướng sư mừng rỡ thì thầm: “Cô gái này quả thật là người phước đức, rất xứng là bậc mẫu nghi thiên hạ!”

Khi ấy, tướng sư tỏ hết sự tình cho nàng rõ, rồi bảo nàng đi tắm gội sạch sẽ, và thay áo quần, kế có thị vệ mời nàng lên kiệu liền. Trống chiên gióng giả mà thẳng lối về vương cung.

Vua thấy nàng mỹ nữ ấy trong lòng bội phần hân hoan, bèn hạ chiếu sắc phong nàng làm phu nhân, và ban thưởng công lao của các tướng sư cùng mấy vị sứ giả, ai nấy đều vừa lòng.

Cách ít lâu, hoàng hậu (tức cô gái ăn xin) mãn vui thú sang giàu, bôn tẩu theo con trào vật chất, nào là khi trăng thanh gió mát, đặt tiệc yến ẩm trong vườn ngự, bắt các cung nữ ca đờn, để giúp thêm cái vui trong hồi thưởng nguyệt, nào là khi thử hạ thừa lương, bày cuộc du quan các miền sơn giả, sai hàng lạp nhân săn bắn để giúp thêm cái vẻ hoạt động giữa khoảng thiên nhiên.

Một ngày nọ, hoàng hậu trực nhớ lại rằng: “Sở dĩ ta được giàu sang phước hậu thế này, đúng là thí ít được nhiều, nhờ cái duyên bố thí khi trước và ơn đức của các vị Thánh tăng gia bị cho. Vậy thì ta phải sớm lo báo đáp cho xứng mới khỏi bứt rứt trong lòng, mà cũng tỏ ra rằng mình là một vị phu nhân biết trọng Phật trọng tăng, ưa làm những điều phước thiện”.

Hoàng hậu bèn đến trước ngự tọa mà tâu rằng: “Muôn tâu Thánh thượng! Thần thiếp ngày xưa là người vất vả hèn hạ, song nhờ được cái hạnh phước kề vai chung gối cùng bệ hạ là nhờ ơn chư Phật gia bị. Vậy xin Thánh thượng rộng lượng cho thần thiếp đến núi Trú Ảm Sơn, trước lạy Phật sau dâng lễ mà đáp ơn.

Vua nghe rồi, tức thì hạ chiếu cho kẻ thị vệ sửa soạn xe giá cho hoàng hậu vào núi.

Đến nơi hoàng hậu dâng hương cúng Phật và trai tăng rồi, kế lấy những bạc vàng châu ngọc ra xin ngài Thượng tọa đứng chứng minh cho mình bố thí, thì ngài kiếm điều thoái thác, nhường việc ấy lại cho thầy Duy-ca đứng ra chú nguyện.

Hoàng hậu thấy vậy, bèn thưa rằng: “Bạch thầy! Ngày trước tôi xin cúng có hai đồng tiền kẽm mà ngài sẵn lòng chú nguyện giùm cho tôi một cách chí thành. Còn nay tôi trở vàng bạc trân châu đến cúng, mà sao thầy chẳng vui lòng chú niệm giùm tôi được chút phước là ý gì?”

Mấy vị tỳ kheo cũng đồng thinh bạch cùng đức Thượng tọa rằng: “Ngày trước người con gái nhà nghèo kia đem hai đồng tiền kẽm đến cúng, thì chúng tôi thấy thầy có ý ân cần, đứng ra chú nguyện rất kỹ. Nay hoàng hậu đã chở vàng bạc châu ngọc đến cúng, mà thầy không chịu đứng ra niệm hương chú nguyện như thế, chúng tôi thấy rất làm thắc mắc, nên cúi xin thầy mở lời chỉ giáo”.

Ngài Thượng tọa bèn nói: “Hoàng hậu đừng thấy bần tăng không chú nguyện mà lấy làm lạ và sanh lòng hiểm, vì theo bổn ý của đức Thế Tôn từ phụ, ta dẫn trọng lòng lành, mà không trọng bạc vàng châu báu. Bởi vậy khi trước hoàng hậu đúng bạc thù thắng, còn nay hoàng hậu chở bạc vàng châu báu đến trai tăng bố thí, thì trong lòng lắm nỗi nhân ngã cống cao, cho nên bần tăng không dám đứng chú nguyện.

Còn các thầy tỳ kheo nội hội này cũng đừng hiềm trách! Hãy thâm giải cái tâm của người xuất gia thế nào, tất sẽ hiểu được cái nguyên lý vì sao mà bần tăng lần này không chú nguyện”.

Các vị tỳ kheo nghe ngài Thượng tọa khai thị như vậy rồi, trong lòng biết hổ thẹn, gắng chí tính tu, mà cùng nhau đều chứng được quả Tu đà hoàn.

Còn hoàng hậu nghe mấy lời pháp ngữ ấy tức thì trong tâm, lớp thì hổ thẹn, lớp thì vui mừng, cũng chứng được quả Tu đà hoàn, rồi đảnh lễ mà xin trở về vương phủ.

Phật nói nhân quả có ba đời:

Đời quá khứ, là đời đã qua rồi, như đời xưa, hay là đời trước.

Đời hiện tại, là đời hiện thế, như đời ta đây.

Đời vị lai, là đời chưa đến, như đời sau.

Như câu chuyện thí ít được nhiều của người con gái ăn xin đã nói trên thì nhằm về nhân quả đời hiện tại, vì nàng có đạo tâm, chịu đói khát mà để dành hai đồng kẽm cúng Phật, nên nàng nhờ sự làm lành ấy mà được hưởng phước làm hoàng hậu trong đời đó liền, chớ không đợi đến đời sau.

Vậy chúng ta đây, như ai làm lành trong đời này mà còn chịu khổ hoài, thì cũng đừng nên ngã lòng thối chí, vì trả quả về những sự làm ác trong đời trước chưa xong.

Thế nào trong đời sau cũng được hưởng phước về sự làm lành trong đời này đó, chớ không khi nào sai mất, cũng thí như trồng cây mà như năm nay chưa được ăn trái, thì thế nào năm tới cũng phải có trái cho mình ăn vậy, vì thí ít được nhiều là điều chắc chắn.

Qua câu chuyện nhân quả thí ít được nhiều cho ta thấy, đã có tâm làm lành biết cúng dường bố thí, thì dù là thí nhiều hay ít miễn có tấm lòng thì đều được Phật trời phù hộ, nên cô gái ăn xin trong truyện, dù chỉ thí có hai đồng kẽm mà lại được phước báu vô lượng, quả đúng là thí ít được nhiều.

Cảm ơn các bạn đã xem hết bài viết “Câu chuyện nhân quả thí ít được nhiều”. Xem thêm các bài viết hay về nhân quả ở link bên dưới.

Câu chuyện nhân quả quy đầu về Phật pháp

Câu chuyện nhân quả con nai cầu cứu mạng

Câu chuyện một vị Sa môn chú nguyện cho con chó

Theo Dõi Taonon.vn trên Facebook Tại Đây

# Xem thêm

Viết một bình luận